Archive | July 15th, 2009

Tiếp tục đẩy mạnh hợp tác và đầu tư tại Lào

Posted on 15 July 2009 by admin

Tại Vientiane và Champasak – hai địa phương kết nghĩa, Thành phố Hồ Chí Minh đang triển khai loạt dự án đầu tư và hợp tác thương mại quy mô lớn.

“Các chương trình, dự án đầu tư giữa Việt Nam và Lào cần được tiếp tục đẩy mạnh trên tinh thần đề cao chất lượng và hiệu quả thực tiễn”, nhiều thành viên Uỷ ban Đối ngoại của Quốc hội đề nghị như vậy khi xem xét vấn đề này trong phiên họp toàn thể Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 9/7.

Theo báo cáo của Bộ Ngoại giao, ngoài các dự án hợp tác cấp chính phủ, Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương có quy mô hợp tác và đầu tư lớn nhất của Việt Nam tại Lào. Các hoạt động hợp tác, đầu tư được triển khai trên nhiều lĩnh vực như công nghiệp, trồng cây cao su, đào tạo, y tế, văn hóa, trợ giúp nhân đạo và trợ giúp tài chính.

Tại Vientiane và Champasak – hai địa phương kết nghĩa, Thành phố Hồ Chí Minh đang triển khai loạt dự án đầu tư và hợp tác thương mại quy mô lớn, bao gồm Trung tâm thương mại tại Champasak, liên doanh giữa Công ty Vissan và Trung tâm Nonghen, hệ thống 3 siêu thị do Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn đầu tư tại Vientiane.

Nhà máy sản xuất đồ nhựa gia dụng của Công ty Nhựa Sài Gòn với tổng vốn đầu tư 1,3 triệu USD đã đi vào hoạt động từ tháng 12/2004 với doanh thu tăng mạnh qua các năm.

Viện Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã giúp Champasak xây dựng “Định hướng chiến lược phát triển bền vững đến năm 2015, tầm nhìn 2020“, cung cấp nhiều tài liệu hướng dẫn quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội.

Một loạt dự án khác về đầu tư trồng cây công nghiệp và nông nghiệp cũng đã đi vào hoạt động, bao gồm dự án đầu tư 32 triệu USD trồng cây cao su tại Champasak và Attapu, dự án trồng ngô giống trị giá 1,2 triệu USD của Công ty nông nghiệp Sài Gòn-Pakse, liên doanh Champa-Savi về sản xuất, chế biến đồ gỗ xuất khẩu trị giá gần 1 triệu USD.

Đại diện Bộ Ngoại giao cho biết, các dự án đã đem lại hiệu quả kinh tế tốt, giúp xóa đói giảm nghèo tại vùng nông thôn Lào, đảm bảo an ninh trật tự xã hội, được chính quyền và nhân dân Lào đánh giá rất cao, coi Việt Nam là mô hình và chỗ dựa tin cậy để hợp tác xây dựng và phát triển đất nước.

Thành phố Hồ Chí Minh cũng là địa phương hỗ trợ Lào rất lớn trong công tác đào tạo. Từ năm 2002 đến nay, đã có 235 lưu học sinh Lào được thành phố giúp đào tạo bằng nguồn ngân sách địa phương.

Các dự án hợp tác về văn hóa, xây dựng cơ sở vật chất phục vụ hoạt động văn hóa, thể thao, y tế, hỗ trợ nhân đạo luôn được Thành phố Hồ Chí Minh coi trọng. Gần 5.000 người nghèo ở Lào đã được Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo Thành phố Hồ Chí Minh giúp mổ mắt miễn phí.

Uỷ ban Đối ngoại của Quốc hội nhấn mạnh tầm quan trọng và ý nghĩa hữu nghị sâu sắc của việc tăng cường hợp tác, đầu tư toàn diện với Lào.

Tuy nhiên, các thành viên của Uỷ ban cũng đề nghị các bộ, ngành liên quan và chính quyền các địa phương bám sát các thỏa thuận cấp cao giữa Chính phủ hai nước để xây dựng những chương trình hợp tác cụ thể, làm rõ các cơ chế đầu tư và hình thức hợp tác.

Theo TTXVN/Vietnam+

Comments (0)

Chuyển sang xây nhà máy điện ở nước ngoài

Posted on 15 July 2009 by admin

Tiến trình cải cách, tái cơ cấu ngành điện để tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) giảm dần vai trò độc quyền như đang chững lại. Bản đề án tái cơ cấu ngành điện do bộ Công thương trình lên Chính phủ đã lâu, vẫn chưa nhận được chỉ đạo cụ thể.

Sự kiên nhẫn của các nhà đầu tư có dự định rót vốn vào ngành điện đang tiến dần đến giới hạn. Một số doanh nghiệp lớn, có thế mạnh đầu tư phát triển điện như: tập đoàn Dầu khí, tổng công ty Sông Đà… đã phải tìm kiếm các dự án đầu tư công trình nguồn điện ở nước ngoài như: Lào và Campuchia.

Tính đến nay, chỉ với các dự án thuỷ điện tại Lào và Campuchia, tổng công suất lắp máy của các dự án đã, đang và dự kiến sẽ triển khai của các nhà đầu tư Việt Nam ở nước ngoài đã khá lớn.

Theo bộ Công thương, con số này vào khoảng 5.000MW, bằng khoảng 1/3 tổng công suất nguồn điện hiện có tại Việt Nam. Trong đó, có những công trình đặc biệt lớn như: dự án thuỷ điện Luang Prabang tại tỉnh Luang Prabang của tập đoàn Dầu khí Việt Nam. Công trình này có công suất 1.400 – 1.500MW, đã được Chính phủ Lào đưa vào quy hoạch phát triển điện tại nước này.

Tập đoàn Đầu tư Sài Gòn đã có dự án Nậm Xam với công suất 800MW tại tỉnh Hủa Phăn của Lào. Công ty cổ phần điện Việt – Lào (do tổng công ty Sông Đà thành lập) đã khởi công xây dựng thuỷ điện Xekaman 1 (290MW) và Xekamam 3 (công suất 250MW) tại tỉnh Sê Kông của Lào. Tổng công ty Hợp tác kinh tế Việt – Lào có dự án Nậm Mô với công suất trên 100MW.

Như không chịu thua kém các nhà đầu tư khác, EVN cũng chiếm vài điểm trên sông Nậm Ét của tỉnh Huả Phăn để xây dựng các dự án thuỷ điện có tổng công suất 420MW. Tại Campuchia, Việt Nam đã có các dự án như thuỷ điện hạ Sê San I (96MW) và hạ Sê San II (420MW) trên dòng Sê San của tỉnh Ratanakiri.

Theo một cán bộ của tổng công ty Điện lực dầu khí (PV – Power), đại diện cho chủ đầu tư là tập đoàn Dầu khí Việt Nam, việc tập đoàn này tham gia phát triển điện tại Lào nhằm tranh thủ khai thác tiềm năng phát triển thuỷ điện còn khá lớn tại đây và hiện nay, dự án này đang nhận được sự ủng hộ cao của Chính phủ Lào.

“Chúng tôi là người đi tiên phong biết rằng, có rất nhiều khó khăn do chi phí cao và nhiều rủi ro vì dự án ở khá xa Việt Nam. Tuy nhiên, đầu tư ở Việt Nam cũng có nhiều khó khăn lớn bởi tình trạng độc quyền”, cán bộ của PV – Power nói.

Chuyên gia hàng đầu về đầu tư, xây dựng các công trình điện hiện nay, ông Trần Viết Ngãi, chủ tịch hiệp hội Năng lượng Việt Nam cho rằng, đầu tư phát triển thuỷ điện tại Lào có rất nhiều lợi thế như phần lớn các điểm có thể xây dựng nhà máy đều thuộc vùng đất cứng, ít có vết đứt gãy, lại ở các vùng hầu như không có nhà dân, nên không phải tốn kém chi phí về giải phóng mặt bằng, di dân tái định cư như ở Việt Nam.

Hơn nữa, ở Lào và Campuchia, các doanh nghiệp của hai nước này chưa có nhiều kinh nghiệm xây dựng nhà máy điện (tổng công ty Điện lực của Lào chỉ sản xuất ra lượng điện một tỉ kWh/năm, bằng lượng điện sản xuất tại tỉnh Hải Dương trong một năm – PV).

Trong khi đó, các nhà đầu tư thuỷ điện Việt Nam hiện được đánh giá có năng lực chỉ thua Trung Quốc, Malaysia ở khu vực châu Á. Nhưng ông Ngãi nói rằng, việc đầu tư phát triển điện ở Lào hay Campuchia có cái thuận lợi hơn Việt Nam, bởi các nhà đầu tư phần nào thoát được cơ chế độc quyền.

“Theo kinh nghiệm của tôi, ở Lào, để triển khai dự án, chỗ này, chỗ kia người ta cũng có đòi hỏi phần trăm, hoa hồng nhất định, nhưng khi dự án triển khai rồi, thì rất thuận lợi mà họ hầu như không có sự can thiệp. Nhưng ở Việt Nam, triển khai dự án mất rất nhiều thủ tục. Cơ chế giá điện lại là một người mua, thuộc EVN, nên có nhiều công trình như nhà máy điện Na Dương, Cao Ngạn, vận hành đã lâu rồi mà đến giờ, thoả thuận mua bán điện với EVN còn chưa xong”, ông Ngãi nói.

Với tổng công suất lắp máy lớn như vậy, khi các công trình hoàn thành, đây là nguồn bổ sung điện rất lớn cho Việt Nam do hiện nay và trong nhiều năm tới, nhu cầu tiêu thụ điện tại Lào và Campuchia còn rất thấp (Lào chỉ tiêu thụ độ 10 – 15% tổng lượng điện của các dự án thuỷ điện do Việt Nam xây dựng), nên các chủ đầu tư phải bán điện về Việt Nam.

Điều đáng lo nhất với nhà đầu tư, điện bán về Việt Nam vẫn phải theo cơ chế giá cả, điều kiện mà nhà độc quyền EVN dễ dàng áp đặt. Với công trình lớn như thuỷ điện Luang Prabang, chắc chắn phải xây dựng một đường dây 500KV để đưa điện về, còn các công trình nhỏ hơn có thể tải bằng đường dây 220KV, rồi kết nối vào đường dây 500KV.

Nhưng người ta đang lo ngại sự sẵn sàng và nhanh chóng của EVN trong việc đầu tư hệ thống đường dây truyền tải này. Một câu chuyện đang nóng bỏng là tình trạng hàng loạt chủ đầu tư các công trình thuỷ điện tại Lào Cai vừa qua đã xây xong nhà máy điện mà không bán nổi cho EVN, chỉ vì hệ thống đường dây đưa điện từ các nhà máy này lên lưới quốc gia chưa sẵn sàng. Và cả hai phía còn đang tranh cãi gay gắt về việc này.

Theo Mạnh Quân
SGTT

Comments (0)

Khởi công dự án cảng Cái Cui giai đoạn 2

Posted on 15 July 2009 by admin

Cảng Cái Cui tọa lạc trên địa bàn phường Tân Phú, quận Cái Răng, giai đoạn 2 với tổng diện tích cảng 37ha, tổng chiều dài cầu cảng 665m.

Quy mô cảng bao gồm 3 bến cập tàu với tổng chiều dài 550m… mục tiêu sau khi hoàn thành có thể tiếp nhận tàu chở container, tàu tổng hợp có tải trọng 20.000 DWT (giai đoạn 1 đã đi vào hoạt động từ tháng 1/2007 với tổng công suất cảng theo thiết kế là 526.904 tấn/năm).

Ngoài ra còn có hệ thống nhà xưởng, kho, bãi phục vụ quản lý, sửa chữa cho cảng, đường nội bộ với tổng diện tích 36.450m2 và hệ thống hạ tầng kỹ thuật của cảng, mở rộng khu dự trữ 17ha.

Giai đoạn 2 có tổng mức đầu tư của dự án là 1.200 tỷ đồng, trong đó chi phí xây dựng là 800 tỷ đồng và chi phí thiết bị là 400 tỷ đồng, sử dụng nguồn vốn tự huy động của Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam.

Dự án khu hậu cần Logistics với mục tiêu hình thành trung tâm tiếp nhận, bảo quản, phân phối hàng hóa kết nối giữa các cơ sở kinh tế công nghiệp trên địa bàn TP Cần Thơ với hệ thống cảng biển và mạng giao thông quốc gia.

Dự án có tổng kinh phí đầu tư là 600 tỷ đồng, với quy mô gồm 2 giai đoạn, giai đoạn 1 là 16ha (260 tỷ đồng) và giai đoạn 2 hoàn thiện là 37ha (340 tỷ đồng).

Phát biểu tại buổi lễ khai mạc, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đánh giá, dự án cảng Cái Cui có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của TP Cần Thơ nói chung và của cả ĐBSCL nói riêng. Thủ tướng đề nghị các đơn vị thực hiện dự án phải tập trung, đẩy nhanh tiến độ sao cho dự án được đưa vào sử dụng sớm nhất.

Theo Huỳnh Hải

Dân trí

Comments (0)

Việt Nam có thêm 15 DN nước ngoài hoạt động nhượng quyền thương mại

Posted on 15 July 2009 by admin

Theo tin từ Bộ Công Thương, trong 6 tháng đầu năm nay Việt Nam đã cấp phép cho 15 doanh nghiệp nước ngoài được hoạt động nhượng quyền thương mại. Phần lớn các doanh nghiệp này đến từ Mỹ, Bỉ, Canada và hoạt động chủ yếu trong các lĩnh vực kinh doanh nhà hàng, quán cà phê, cửa hàng thời trang, công nghệ thông tin.

Hoạt động nhượng quyền thương mại còn khá mới mẻ tại nước ta và Việt Nam hiện chỉ có 2 cơ sở pháp lý cho việc quản lý hoạt động nhượng quyền thương mại là Nghị định 35/2006/NĐ-CP và Thông tư 09/2006/TT-BTM.

Thống kê của Hội đồng nhượng quyền thương mại Thế giới (WFC), hiện Việt Nam có khoảng 70 hệ thống nhượng quyền thương mại, trong đó chủ yếu là các thương hiệu nước ngoài như: Parkson (Malaysia), Metro (Đức), CBRE, Dilmah, KFC (Mỹ)…

Một số doanh nghiệp Việt Nam cũng đã tiến hành nhượng quyền thương mại như: Cà phê Trung Nguyên, Phở 24, Bánh ngọt Kinh Đô, AQ Silk, Siêu thị 24 – seven…

Bộ Thương Mại

Comments (0)

Những dự án đóng tàu đang… “chìm dần”

Posted on 15 July 2009 by admin

Tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long, nhiều dự án xây dựng khu công nghiệp đóng tàu được tập đoàn công nghiệp tàu thuỷ Vinashin đăng ký, động thổ rồi… để đó.

Hơn hai năm trước, ngày 30.4.2007, Vinashin tổ chức lễ khởi công xây dựng cụm công nghiệp tàu thuỷ (CNTT) và nhà máy đóng tàu (NMĐT) hết sức rình rang tại khu công nghiệp Sông Hậu (xã Đông Phú, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang).

“Xí phần”…

Lúc đó, Vinashin tuyên bố NMĐT ở Hậu Giang có tổng vốn đầu tư là 1.100 tỉ đồng. Giai đoạn một (766 tỉ đồng), xây dựng trên diện tích 60ha, đóng mới được tàu có trọng tải 30.000 DWT, thu hút 5.000 lao động. Giai đoạn hai (350 tỉ đồng) đóng tàu có trọng tải từ 50.000 – 70.000 DWT.

Riêng cụm CNTT xây dựng trên 290ha, vốn đầu tư 1.700 tỉ đồng, trong đó có nhà máy sản xuất container lớn nhất phía Nam công suất 120.000 container/năm.

Với tổng diện tích quy hoạch 600ha, tổng vốn đầu tư 60.000 tỉ đồng, NMĐT và cụm CNTT Hậu Giang sẽ giải quyết việc làm cho khoảng 20.000 lao động.

Trong ngày khởi công, Vinashin tuyên bố năm 2008, NMĐT và cụm CNTT sẽ đóng mới tàu có trọng tải 20.000 DWT. Tuy nhiên, sau hơn hai năm, hiện nay NMĐT và cụm CNTT của Vinashin chỉ là bãi đất trống đầy cát và cỏ dại, vài công nhân và vài chiếc cần cẩu đứng… “lặng thinh”!

Thứ hai là, dự án cụm CNTT và NMĐT do Vinashin đăng ký đầu tư tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, nơi cách xa cửa biển Định An gần 150km, luồng lạch không đảm bảo cho tàu trên 5.000 DWT di chuyển.

Ông Tạ Văn Hội, chủ tịch UBND huyện Lai Vung, cho biết năm 2007, Vinashin đăng ký 450ha đất thuộc hai xã Tân Hoà, Định Hoà để xây dựng NMĐT, cụm CNTT và khu dân cư, trong đó NMĐT chiếm 60ha, vốn đầu tư hàng ngàn tỉ đồng.

Nhưng từ năm 2007 đến nay, mặc cho huyện chờ mãi, nhưng các dự án của Vinashin vẫn “bặt tăm”. “Cũng may mà chúng tôi chưa tiến hành giải toả, nên không xảy ra tình trạng đất đai phải bỏ hoang”, ông Hội nói.

Tương tự, tại huyện Gò Công Đông (Tiền Giang), “con” của Vinashin là công ty TNHH một thành viên Đầu tư phát triển công nghiệp tàu thuỷ phía Nam cũng “xí phần” 285ha đất ở hai xã Gia Thuận và Vàm Láng để xây dựng NMĐT, khu cảng biển, khu công nghiệp phụ trợ với vốn đầu tư lên đến nhiều ngàn tỉ đồng.

Sau khi tỉnh Tiền Giang bồi hoàn, giải toả, thu hồi đất của dân, thì chờ mãi chẳng thấy công ty này làm thủ tục đầu tư để được giao đất, khiến 285ha đất phải bỏ hoang cho cỏ mọc. Tuy vậy, tập đoàn này vẫn tiếp tục “vẽ dự án” để được UBND tỉnh Tiền Giang cho “xí phần” thêm 200ha đất.

Trôi dần những dự án ngàn tỉ

Tại Tiền Giang, ông Nguyễn Hữu Chí, nguyên chủ tịch UBND tỉnh (nay giữ chức thứ trưởng bộ Tài chính), cho biết từ năm 2008 đến nay, UBND tỉnh rất nhiều lần gửi công văn yêu cầu Vinashin đốc thúc công ty con nhanh chóng thực hiện các thủ tục đầu tư để tỉnh tiến hành giao đất triển khai dự án, tránh tình trạng lãng phí đất và gây bức xúc trong dư luận xã hội.

Tuy nhiên, phía Vinashin vẫn “im lặng như tờ”, nên UBND tỉnh Tiền Giang phải huỷ việc giao thêm 200ha đất cho nhà đầu tư này.

Tại Đồng Tháp, ông Trương Ngọc Hân, chủ tịch UBND tỉnh cũng cho biết, sau hai năm chờ đợi và rất nhiều lần đốc thúc, UBND tỉnh phải quyết định xoá quy hoạch dự án của Vinashin tại huyện Lai Vung vì không thấy hồi âm.

Trong khi đó ở Hậu Giang, ông Nguyễn Phong Quang, bí thư tỉnh uỷ, dù cho rằng, NMĐT và cụm CNTT do Vinashin đầu tư đang “tiếp tục đầu tư xây dựng”, nhưng vẫn phải thừa nhận là tiến độ thi công rất lề mề, chậm chạp, khiến tỉnh phải thường xuyên đốc thúc.

Theo Hùng Anh
SGTT

Comments (0)

Tags:

Hochiminh City investment

Posted on 15 July 2009 by admin

Comments (0)

Vietnam – Investment Land

Posted on 15 July 2009 by admin

Comments (0)

Mở cửa thầu đường cao tốc Bắc – Nam

Posted on 15 July 2009 by admin

Báo cáo cuối kỳ về quy hoạch chi tiết đường bộ cao tốc Bắc – Nam cho biết, đến năm 2020, sẽ cơ bản nối thông những đoạn quan trọng của tuyến đường này.

Theo thiết kế, dự án đường ôtô cao tốc Bắc-Nam có tổng chiều dài 1.811km, với điểm đầu là nút giao Pháp Vân, điểm cuối là nút giao Chà Và ở phía Bắc của dự án cầu Cần Thơ.

Sẽ có 16 đoạn tuyến

Trong báo cáo về cuối kỳ quy hoạch chi tiết đường ôtô cao tốc Bắc – Nam, vừa được Cục Đường bộ Việt Nam trình Bộ Giao thông Vận tải, đơn vị tư vấn là Tổng công ty Tư vấn thiết kế giao thông vận tải (TEDI) khuyến nghị nên chia tuyến đường thành 16 đoạn (tương đương với 16 dự án thành phần) và phân kỳ đầu tư thành 3 giai đoạn.

Giai đoạn 1 (từ nay đến năm 2010) sẽ đầu tư 4 đoạn tuyến dài 222 km với tổng mức đầu tư 53.135 tỷ đồng; giai đoạn 2 (từ năm 2011 đến 2020) sẽ đầu tư 8 đoạn tuyến dài 1.082 km với tổng vốn đầu tư khoảng 185.000 tỷ đồng; giai đoạn 3 (sau năm 2020) sẽ đầu tư 2 đoạn tuyến dài 507 km và mở rộng thêm đoạn đường Pháp Vân – Cầu Giẽ từ 4 làn xe lên 6 làn xe với tổng mức đầu tư khoảng 74.600 tỷ đồng.

Ngoài 30 km đường bộ cao tốc đầu tuyến đã được xây dựng xong là (Pháp Vân – Cầu Giẽ), đang có 2 đoạn tuyến là: Cầu Giẽ – Ninh Bình dài 50 km, Bến Lức – Trung Lương dài 37 km đang trong giai đoạn xây dựng; 13 đoạn tuyến còn lại đang tìm kiếm nguồn vốn đầu tư và nhà đầu tư. Tính tổng cộng, kinh phí để xây dựng tuyến đường bộ cao tốc Bắc – Nam sẽ vào khoảng 312.862 tỷ đồng.

Hiện nay, do tuyến đường sắt cao tốc Bắc – Nam phải sau năm 2036 mới có thể đưa vào khai thác nên tuyến đường bộ cao tốc này sẽ là huyết mạch quan trọng trong việc chuyên chở hàng hóa và hành khách từ Bắc tới Nam và các đoạn tuyến. Chính vì vậy, mặc dù có suất đầu tư lên tới 173 tỷ đồng/km, thời gian hoàn vốn kéo dài, các dự án xây dựng đường cao tốc trên tuyến Bắc – Nam vẫn thu hút sự quan tâm, đặc biệt của các nhà đầu tư.

Theo ông Mai Anh Tuấn, Phó cục trưởng Cục Đường bộ Việt Nam, Báo cáo đã cung cấp những hình dung cơ bản nhất về trục đường bộ cao tốc được coi là “xương sống” của nền kinh tế. Đồng thời cũng chỉ ra được trình tự ưu tiên đầu tư, cơ chế, chính sách và các phương án thực hiện để giúp các nhà đầu tư có thêm thông tin về một trong những cơ hội đầu tư tốt nhất trong lĩnh vực hạ tầng giao thông.

Hiện nay, tất cả các đoạn tuyến đường bộ cao tốc Bắc – Nam kể trên đều nằm trong danh mục dự án kêu gọi vốn đầu tư theo hình thức BOT của ngành giao thông vận tải và danh mục quốc gia kêu gọi đầu tư nước ngoài giai đoạn 2006 – 2010. Điều này có nghĩa là, Bộ Giao thông Vận tải đã “mở cửa” cho tất cả các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư dưới các hình thức: BOT, BT, BOO, PPP…

Tuy nhiên, tại một số ít đoạn tuyến do tính chất cấp bách, Nhà nước sẽ phải bỏ vốn ngân sách để đầu tư (như đoạn Đà Nẵng – Quảng Ngãi), Bộ Giao thông Vận tải sẽ kiến nghị đẩy mạnh công tác xã hội hóa đầu tư vào dự án đường ôtô cao tốc Bắc – Nam với phương châm hạn chế tối đa sự tham gia trực tiếp về vốn của Nhà nước.

Đẩy mạnh xã hội hoá đầu tư

Theo các chuyên gia, trong số 12 đoạn tuyến mà TEDI khuyến nghị đầu tư từ nay đến năm 2020, thực chất chỉ có khoảng 8 đoạn tuyến với lưu lượng phương tiện vào năm 2020 khoảng 40.000 phương tiện quy đổi/ngày đêm, là có tính khả thi tài chính tương đối. Bởi lẽ, ngoài nguồn thu phí, các nhà đầu tư vẫn cần sự hỗ trợ lớn của Nhà nước về lãi suất, đất đai để có thể hoàn vốn dự án.

Trong số này, 2 đoạn tuyến đang trong giai đoạn xây dựng; 3 đoạn tuyến là Long Thành – Dầu Giây, Trung Lương – Cần Thơ, Đà Nẵng – Quảng Ngãi đã xác định được nguồn vốn, dự định khởi công chậm nhất là vào giữa năm 2009. Ngay cả 4 đoạn tuyến còn lại là Ninh Bình – Thanh Hóa; Thanh Hóa – Vinh; Dầu Giây – Phan Thiết; Phan Thiết – Nha Trang đều đã nhận được đề xuất xin đầu tư của Tổng công ty Xi măng Việt Nam; Bitexco; Tổng công ty Sông Đà.

Tuy nhiên, ông Ngô Thịnh Đức, Thứ trưởng Bộ Giao thông Vận tải khẳng định, cơ hội cho các nhà đầu tư tham gia đầu tư tại tuyến cao tốc Bắc – Nam trong giai đoạn ngắn hạn vẫn còn rất lớn. Với tổng mức đầu tư lên tới hàng chục ngàn tỷ đồng cho mỗi đoạn tuyến, thời gian huy động vốn kéo dài từ 20 đến 40 năm, các doanh nghiệp hiện được giao lập đề xuất dự án chỉ đóng vai trò đầu mối để kêu gọi vốn đầu tư dưới hình thức thành lập công ty cổ phần BOT.

Theo Tịnh Trí

VnEconomy

Comments (0)

Cần hơn 54 tỷ đầu tư nâng cấp cảng Vũng Rô

Posted on 15 July 2009 by admin

Giai đoạn 2 từ năm 2012 đến 2015, cầu cảng Vũng Rô tỉnh Phú Yên sẽ được nối dài thêm từ 40 đến 50m để có thể tiếp nhận tàu đến 5.000DWT.

Hiện tại, cảng Vũng Rô chỉ có một cầu tàu dài 78,1m, rộng 19m. Với quy mô như thế, cảng chỉ có thể tiếp nhận tàu dưới 3.000DWT và một bến liền bờ dài 200m dùng để làm nơi neo đậu tàu cá có công suất đến 135CV.

Theo báo cáo nghiên cứu khả thi điều chỉnh dự án đầu tư xây dựng cảng do Công ty Tư vấn xây dựng công trình hàng hải lập, được UBND tỉnh Phú Yên phê duyệt, năng lực hàng hóa thông qua cảng đạt 250.000 tấn/năm, thời gian khai thác đạt công năng thiết kế cầu cảng hơn 7 năm.

Thế nhưng, sau khi cầu cảng Vũng Rô được Cục Hàng hải Việt Nam cho phép đưa vào khai thác chưa được 5 năm thì cảng Vũng Rô đã bị quá tải. Năm 2008, sản lượng hàng hóa thông qua cảng đạt trên 272.000 tấn; 6 tháng đầu năm 2009 đạt 194.000 tấn, ước cả năm có thể đạt 300.000 tấn.

Theo Công ty TNHH một thành viên Cảng Vũng Rô, với tình hình tăng trưởng như hiện nay, cảng Vũng Rô tiếp tục thu hút thêm nhiều tàu hàng trong nước vào cập cảng. Dự báo cả năm 2010, cảng sẽ đạt sản lượng 350.000 tấn hàng hóa các loại.

Liên tiếp nhiều tháng nay, cảng Vũng Rô luôn trong tình trạng quá tải, mặc dù Công ty TNHH một thành viên Cảng Vũng Rô đã chủ động đầu tư thêm thiết bị, bố trí sản xuất hợp lý.

Hiện mỗi ngày, cầu cảng Vũng Rô có bốn tàu cập cảng làm hàng, còn trong khu neo đậu thường xuyên có 5-6 tàu chờ đến lượt cập cảng. Tình trạng quá tải của cảng Vũng Rô đã gây nhiều phiền toái cho các chủ tàu, chủ hàng khi mất nhiều thời gian chờ đợi.

Ông Nguyễn Minh, Giám đốc Công ty TNHH một thành viên Cảng Vũng Rô cho biết trong giai đoạn 1 từ năm 2010 đến 2012, doanh nghiệp này sẽ tiến hành nâng cấp khu vực bến liền bờ thành một cầu cảng mới có chiều dài 160m, có thể tiếp nhận cùng một lúc ba tàu dưới 1.500DWT với sản lượng hàng hóa khai thác đạt 250.000 tấn/năm.

Giai đoạn 2 từ năm 2012 đến 2015, cầu cảng hiện nay sẽ được nối dài thêm từ 40 đến 50m để có thể tiếp nhận tàu đến 5.000DWT. Như vậy, sau khi nâng cấp, cảng Vũng Rô có thể đạt sản lượng 1 triệu tấn hàng hóa/năm.

Cũng theo ông Nguyễn Minh, việc đầu tư nâng cao năng lực cảng Vũng Rô là cần thiết nhưng việc triển khai thực hiện dự án được cân nhắc, tính toán kỹ lưỡng nhằm tận dụng điều kiện tự nhiên thuận lợi, khai thác tối đa cầu cảng hiện có, đồng thời không để xảy ra gián đoạn sản xuất. Dự kiến, tổng vốn đầu tư nâng cấp cảng Vũng Rô khoảng 54,4 tỉ đồng từ nhiều nguồn vốn khác nhau.
Theo Hoài Trung
Báo Phú Yên

Comments (0)

Hà Nội sẽ xử lý quyết liệt các dự án chậm triển khai

Posted on 15 July 2009 by admin

(VOV) – Từ năm 2001 đến nay, thành phố mới xử lý thu hồi đất của 86 tổ chức đề đất hoang hoá, sử dụng sai mục đích, vi phạm Luật Đất đai.

Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Vũ Hồng Khanh cho biết, trên địa bàn thành phố có 381 dự án chậm triển khai với tổng diện tích 4.055 ha đất, chiếm 12,5% tổng số 3.401 dự án được giao và cho thuê đất từ năm 2003-2008. Trong đó, có 205 dự án vốn ngân sách, 176 dự án vốn ngoài ngân sách.

Các dự án chậm tiến độ chia 3 loại: 294 dự án chậm triển khai trong công tác giải phóng mặt bằng ; 48 dự án chủ đầu tư không sử dụng đất trong 12 tháng kể từ khi nhận bàn giao và 39 dự án chậm 24 tháng so với tiến độ dự án được duyệt.

Các dự án chậm triển khai do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu do việc lựa chọn các chủ đầu tư yếu về năng lực tài chính và thiếu kinh nghiệm triển khai dự án thuộc trách nhiệm của cơ quan tham mưu, thẩm định khi giao chủ đầu tư, cấp giấy chứng nhận đầu tư và do chính quyền địa phương chậm phát hiện các vi phạm.

Từ năm 2001 đến nay, thành phố mới xử lý thu hồi đất của 86 tổ chức để đất hoang hoá, sử dụng sai mục đích, vi phạm Luật Đất đai với diện tích 128,08 ha đất. Điều chỉnh thời gian và cho phép tiếp tục thực hiện 58 dự án. Yêu cầu 117 tổ chức khắc phục trình trạng để đất hoang hoá đã đưa vào sử dụng. 26 dự án đang làm thủ tục giải quyết vướng mắc, chủ yếu là khiếu nại, tố cáo của công dân. Riếng 6 tháng đầu năm 2009 thành phố ra quyết định thu hồi đất của Công ty Du lịch Hà Nội để đất hoang hoá tại 15-17 Yên Phụ, quận Tây Hồ; Lập hồ sơ thu hồi đất của 5 đơn vị vi phạm Luật Đất đai là Công ty khai thác công trình thuỷ lợi Gia Lâm, Hợp tác xã công nghiệp cổ phần Hoa Sen, Công ty Vĩnh Hà, Hợp tác xã nông nghiệp Mỗ Lao, Công ty cổ phần Đồng Tháp.

Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Vũ Hồng Khanh cho biết, trên cơ sở kết quả kiểm tra, UBND thành phố Hà Nội tiếp tục chỉ đạo xử lý quyết liệt các vi phạm theo quy định Luật Đất năm 2003 và Quyết định số 59/2009/ QĐ-UBND ngày 7/4/2009 của UBND thành phố Hà Nội./.

Comments (0)

 

July 2009
M T W T F S S
    Dec »
 12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
2728293031  

New projects

Recent Comments

    Google Analize