Archive | Kinh tế

Chuyển sang xây nhà máy điện ở nước ngoài

Posted on 15 July 2009 by admin

Tiến trình cải cách, tái cơ cấu ngành điện để tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) giảm dần vai trò độc quyền như đang chững lại. Bản đề án tái cơ cấu ngành điện do bộ Công thương trình lên Chính phủ đã lâu, vẫn chưa nhận được chỉ đạo cụ thể.

Sự kiên nhẫn của các nhà đầu tư có dự định rót vốn vào ngành điện đang tiến dần đến giới hạn. Một số doanh nghiệp lớn, có thế mạnh đầu tư phát triển điện như: tập đoàn Dầu khí, tổng công ty Sông Đà… đã phải tìm kiếm các dự án đầu tư công trình nguồn điện ở nước ngoài như: Lào và Campuchia.

Tính đến nay, chỉ với các dự án thuỷ điện tại Lào và Campuchia, tổng công suất lắp máy của các dự án đã, đang và dự kiến sẽ triển khai của các nhà đầu tư Việt Nam ở nước ngoài đã khá lớn.

Theo bộ Công thương, con số này vào khoảng 5.000MW, bằng khoảng 1/3 tổng công suất nguồn điện hiện có tại Việt Nam. Trong đó, có những công trình đặc biệt lớn như: dự án thuỷ điện Luang Prabang tại tỉnh Luang Prabang của tập đoàn Dầu khí Việt Nam. Công trình này có công suất 1.400 – 1.500MW, đã được Chính phủ Lào đưa vào quy hoạch phát triển điện tại nước này.

Tập đoàn Đầu tư Sài Gòn đã có dự án Nậm Xam với công suất 800MW tại tỉnh Hủa Phăn của Lào. Công ty cổ phần điện Việt – Lào (do tổng công ty Sông Đà thành lập) đã khởi công xây dựng thuỷ điện Xekaman 1 (290MW) và Xekamam 3 (công suất 250MW) tại tỉnh Sê Kông của Lào. Tổng công ty Hợp tác kinh tế Việt – Lào có dự án Nậm Mô với công suất trên 100MW.

Như không chịu thua kém các nhà đầu tư khác, EVN cũng chiếm vài điểm trên sông Nậm Ét của tỉnh Huả Phăn để xây dựng các dự án thuỷ điện có tổng công suất 420MW. Tại Campuchia, Việt Nam đã có các dự án như thuỷ điện hạ Sê San I (96MW) và hạ Sê San II (420MW) trên dòng Sê San của tỉnh Ratanakiri.

Theo một cán bộ của tổng công ty Điện lực dầu khí (PV – Power), đại diện cho chủ đầu tư là tập đoàn Dầu khí Việt Nam, việc tập đoàn này tham gia phát triển điện tại Lào nhằm tranh thủ khai thác tiềm năng phát triển thuỷ điện còn khá lớn tại đây và hiện nay, dự án này đang nhận được sự ủng hộ cao của Chính phủ Lào.

“Chúng tôi là người đi tiên phong biết rằng, có rất nhiều khó khăn do chi phí cao và nhiều rủi ro vì dự án ở khá xa Việt Nam. Tuy nhiên, đầu tư ở Việt Nam cũng có nhiều khó khăn lớn bởi tình trạng độc quyền”, cán bộ của PV – Power nói.

Chuyên gia hàng đầu về đầu tư, xây dựng các công trình điện hiện nay, ông Trần Viết Ngãi, chủ tịch hiệp hội Năng lượng Việt Nam cho rằng, đầu tư phát triển thuỷ điện tại Lào có rất nhiều lợi thế như phần lớn các điểm có thể xây dựng nhà máy đều thuộc vùng đất cứng, ít có vết đứt gãy, lại ở các vùng hầu như không có nhà dân, nên không phải tốn kém chi phí về giải phóng mặt bằng, di dân tái định cư như ở Việt Nam.

Hơn nữa, ở Lào và Campuchia, các doanh nghiệp của hai nước này chưa có nhiều kinh nghiệm xây dựng nhà máy điện (tổng công ty Điện lực của Lào chỉ sản xuất ra lượng điện một tỉ kWh/năm, bằng lượng điện sản xuất tại tỉnh Hải Dương trong một năm – PV).

Trong khi đó, các nhà đầu tư thuỷ điện Việt Nam hiện được đánh giá có năng lực chỉ thua Trung Quốc, Malaysia ở khu vực châu Á. Nhưng ông Ngãi nói rằng, việc đầu tư phát triển điện ở Lào hay Campuchia có cái thuận lợi hơn Việt Nam, bởi các nhà đầu tư phần nào thoát được cơ chế độc quyền.

“Theo kinh nghiệm của tôi, ở Lào, để triển khai dự án, chỗ này, chỗ kia người ta cũng có đòi hỏi phần trăm, hoa hồng nhất định, nhưng khi dự án triển khai rồi, thì rất thuận lợi mà họ hầu như không có sự can thiệp. Nhưng ở Việt Nam, triển khai dự án mất rất nhiều thủ tục. Cơ chế giá điện lại là một người mua, thuộc EVN, nên có nhiều công trình như nhà máy điện Na Dương, Cao Ngạn, vận hành đã lâu rồi mà đến giờ, thoả thuận mua bán điện với EVN còn chưa xong”, ông Ngãi nói.

Với tổng công suất lắp máy lớn như vậy, khi các công trình hoàn thành, đây là nguồn bổ sung điện rất lớn cho Việt Nam do hiện nay và trong nhiều năm tới, nhu cầu tiêu thụ điện tại Lào và Campuchia còn rất thấp (Lào chỉ tiêu thụ độ 10 – 15% tổng lượng điện của các dự án thuỷ điện do Việt Nam xây dựng), nên các chủ đầu tư phải bán điện về Việt Nam.

Điều đáng lo nhất với nhà đầu tư, điện bán về Việt Nam vẫn phải theo cơ chế giá cả, điều kiện mà nhà độc quyền EVN dễ dàng áp đặt. Với công trình lớn như thuỷ điện Luang Prabang, chắc chắn phải xây dựng một đường dây 500KV để đưa điện về, còn các công trình nhỏ hơn có thể tải bằng đường dây 220KV, rồi kết nối vào đường dây 500KV.

Nhưng người ta đang lo ngại sự sẵn sàng và nhanh chóng của EVN trong việc đầu tư hệ thống đường dây truyền tải này. Một câu chuyện đang nóng bỏng là tình trạng hàng loạt chủ đầu tư các công trình thuỷ điện tại Lào Cai vừa qua đã xây xong nhà máy điện mà không bán nổi cho EVN, chỉ vì hệ thống đường dây đưa điện từ các nhà máy này lên lưới quốc gia chưa sẵn sàng. Và cả hai phía còn đang tranh cãi gay gắt về việc này.

Theo Mạnh Quân
SGTT

Comments (0)

Việt Nam có thêm 15 DN nước ngoài hoạt động nhượng quyền thương mại

Posted on 15 July 2009 by admin

Theo tin từ Bộ Công Thương, trong 6 tháng đầu năm nay Việt Nam đã cấp phép cho 15 doanh nghiệp nước ngoài được hoạt động nhượng quyền thương mại. Phần lớn các doanh nghiệp này đến từ Mỹ, Bỉ, Canada và hoạt động chủ yếu trong các lĩnh vực kinh doanh nhà hàng, quán cà phê, cửa hàng thời trang, công nghệ thông tin.

Hoạt động nhượng quyền thương mại còn khá mới mẻ tại nước ta và Việt Nam hiện chỉ có 2 cơ sở pháp lý cho việc quản lý hoạt động nhượng quyền thương mại là Nghị định 35/2006/NĐ-CP và Thông tư 09/2006/TT-BTM.

Thống kê của Hội đồng nhượng quyền thương mại Thế giới (WFC), hiện Việt Nam có khoảng 70 hệ thống nhượng quyền thương mại, trong đó chủ yếu là các thương hiệu nước ngoài như: Parkson (Malaysia), Metro (Đức), CBRE, Dilmah, KFC (Mỹ)…

Một số doanh nghiệp Việt Nam cũng đã tiến hành nhượng quyền thương mại như: Cà phê Trung Nguyên, Phở 24, Bánh ngọt Kinh Đô, AQ Silk, Siêu thị 24 – seven…

Bộ Thương Mại

Comments (0)

TPHCM: 20 năm thu hút đầu tư nước ngoài

Posted on 15 July 2009 by admin

TPHCM: 20 năm thu hút đầu tư nước ngoài

(VOH) - Kể từ 1/1/1988, khi nhà đầu tư nước ngoài được phép tham gia hoạt động đầu tư tại Việt Nam thì TPHCM với các ưu thế về mặt địa lý  kinh tế -xã hội đã trở thành tâm điểm chú ý của các nhà đầu tư trong và ngoài khu vực. Và kể từ đó TPHCM luôn là địa phương dẫn đầu cả nước về thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
Đến nay, tròn 20 năm -một thời gian khá dài để nhận định cũng như đánh giá sự thành công và hạn chế của đồng vốn đầu tư nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế của thành phố, cũng như tác động của thu hút đầu tư nước ngoài cho cả vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Phóng viên Mỹ Trang đã có loạt bài đề cập đến vấn đề này.

Bài 1: Hiệu quả của những đồng vốn đầu tư nước ngoài

Với lợi thế là có vị trí địa lý thuận lợi, trung tâm kinh tế và là một thị trường năng động nhất của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có tiềm năng về nguồn nhân lực dồi dào…nên hai mươi năm qua, TPHCM luôn là địa phương dẫn đầu cả nước về thu hút đầu tư nước ngoài với hơn 3.141 dự án đầu tư được cấp giấy chứng nhận còn hiệu lực trên tổng số vốn đăng ký khoảng 25,6 tỷ USD.
Điểm lại từng giai đoạn cho thấy, nếu như trong những năm đầu (từ 1988- 1996), đồng vốn đầu tư nước ngoài vào thành phố chỉ có mang tính hình thức thăm dò với khoảng 8,3 tỷ USD thì đến giai đoạn 2006-2008 đầu tư vào TPHCM tăng tốc một cách ồ ạt. Chỉ tính riêng năm 2008, có đến 542 dự án đầu tư và số vốn đăng ký lên đến 8,4 tỷ USD, cao hơn tổng số vốn đăng ký tính chung từ năm 2002 đến năm 2007.

Đầu tư phát triển hạ tầng giao thông đô thị là một trong những lĩnh lực được TP ưu tiên thu hút FDI

Các dự án đầu tư tập trung vào lĩnh vực dịch vụ, công nghiệp, trong đó dịch vụ chiếm đến 48,5%, công nghiệp chiếm 36,3%, còn lại là các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản. Tuy nhiên, những năm gần đây, xu hướng đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố lại tập trung vào các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế, công nghệ cao với quy mô đầu tư lớn. Đây cũng là lĩnh vực mà TPHCM ưu tiên thu hút đầu tư để phát triển kinh tế theo hướng Công nghiệp hóa- hiện đại hóa.
Các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư nhiều nhất vào TPHCM là Hồng Kong với số vốn hơn 3,4 tỷ USD, chiếm đến 19,7% tổng dòng vốn đầu tư nước ngoài vào thành phố, kế đến là Hàn Quốc với tổng vốn đầu tư khoảng 2,8 tỷ USD. Tuy nhiên, vào thời điểm cuối năm 2008, thứ hạng này có sự thay đổi khi Malaysia đầu tư cho dự án khu đô thị đại học quốc tế Berjiaya, vốn đăng ký 3,5 tỷ USD đã từ vị trí thứ mười đã vươn lên vị trí thứ nhất, đứng thứ hai là Singapore với số vốn đầu tư cũng hơn 3 tỷ USD. Các quốc gia và vùng lãnh thổ khác như Nhật Bản, Anh, Pháp, Hoa Kỳ và Đài Loan vẫn nằm trong tốp những quốc gia và vùng lãnh thổ có vốn đầu tư vào TPHCM nhiều nhất. Nhưng nhìn chung, các nước Đông Nam Á và Đông Bắc Á vẫn là các nước có tổng vốn đầu tư chiếm tỷ trọng cao.
Từ những đồng vốn đầu tư nước ngoài nói trên đã đóng góp tích cực vào nhu cầu đầu tư và phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế của thành phố. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra nhanh chóng: công nghiệp- xây dựng tăng nhanh từ 38,5% vào năm 1995 đã tăng lên 45,6% vào năm 2007, cơ cấu ngành nông nghiệp- lâm nghiệp- thủy sản giảm dần, tính đến năm 2007 chỉ còn có 1,45%. Bên cạnh đó, kim ngạch xuất nhập khẩu của thành phố cũng tăng đáng kể. Có thể thấy, tỷ trọng xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài trong tổng giá trị xuất khẩu tăng dần, từ 10,3% vào năm 1995 thì đến năm 2007 đã lên đến 26,7%. Ông Nguyễn Trung Tín -Phó chủ tịch UBND TP khẳng định:

Điểm mốc đánh dấu sự thành công của thu hút đầu tư nước ngoài tại TPHCM là sự ra đời của các khu chế xuất- khu công nghiệp, trong đó phải kể đến sự phát triển khu chế xuất Tân Thuận- một loại hình khu chế xuất- khu công nghiệp đầu tiên không chỉ của thành phố HCM mà còn là khu chế xuất đầu tiên của cả nước, thu hút trên 100 doanh nghiệp đến đầu tư vào đây ngay từ những ngày đầu mới hình thành vào năm 1991. Đến nay đã trở thành một khu chế xuất kiểu mẫu, giá trị sản xuất và xuất khẩu chiếm tỷ trọng rất cao. Từ các khu chế xuất- khu công nghiệp đã biến đổi trên 3.500 hecta đất nông nghiệp nhiễm phèn, nhiễm mặn, năng suất thấp trở thành vùng đất công nghiệp có đủ điện nước, có đường giao thông thuận lợi, tạo ra công ăn việc làm cho 250.000 người lao động đến từ khắp các tỉnh thành trong cả nước. Ông Y.T.Yuong- Tổng giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Tân Thuận cho biết thêm:

“TPHCM đã nổ lực tạo ra một môi trường đầu tư và thủ tục thông thoáng , góp phần tạo ra nhiều công ăn việc làm , nâng cao mức sống của người dân . Cũng đã tạo điều kiện cho chúng tôi đã đầu tư vào khu chế xuất Tân Thuận từ những năm 1991 , biến một khu vực đầm lầy thành một khu công nghiệp sầm uất như hiện nay , với rất nhiều việc làm và nhiều công trình phúc lợi cho người lao động”.

Sự phát triển thành công các khu chế xuất- khu công nghiệp đã góp phần tích cực vào công cuộc công nghiệp hóa- hiện đại hóa của thành phố.  Đời sống người dân tăng cao, thể hiện qua việc không còn hộ nghèo theo tiêu chí 6 triệu đồng/năm vào năm 2008. Ngoài ra, đầu tư nước ngoài cũng góp phần vào quá trình đô thị hóa của thành phố, tỷ lệ đô thị hóa đạt cao nhất cả nước, dự kiến đến năm 2010 thành phố sẽ có khoảng 10 triệu người.
Từ năm 1991 cho đến nay, thông qua hơn 10 tỷ USD vốn đầu tư được thực hiện, GDP của thành phố tăng trưởng kiên tục, nếu như năm 2000, GDP tăng trưởng 9%/năm thì đến năm 2007 đã lên đến 12,6%. Đóng góp của khu vực đầu tư nước ngoài vào GDP cũng có xu hướng tăng dần qua từng năm, từ 3.623 tỷ đồng năm 1995 tăng lên 9.723 tỷ đồng vào năm 2000 và đến năm 2007 là 20.507 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 18,28% GDP của thành phố. Nói về sự thành công của TPHCM đối với công tác thu hút đầu tư nước ngoài – Cục trưởng cục đầu tư nước ngoài Phan Hữu Thắng cho rằng:

Và như vậy, hoạt động thu hút đầu tư nước ngoài đã mang lại một diện mạo mới cho thành phố HCM với sự xuất hiện hàng loạt các tập đoàn lớn như: Intel, BP, Samsung, Toshiba, Mercedes, Isuzu, Nidec…đã góp phần cải thiện đáng kể môi trường đầu tư. Mặt khác cũng đã thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước nhanh chóng chuyền đổi đầu tư công nghệ nâng cao chất lượng sản phẩm và áp dụng phương thức kinh doanh hiệu quả để nâng cao giá trị sản phẩm của thành phố trên thị trường quốc tế .

Mỹ Trang VOH

Comments (0)

 

February 2012
M T W T F S S
« Dec    
 12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
272829  

New projects

Recent Comments

    Google Analize